E2.2. Cây Gậy Của Người Chăn Bầy -Những Yếu Tố Quan Trọng Về Sự Ngợi Khen

156

Cây Gậy Của Người Chăn Bầy

PH: Phần E2
SỰ NGỢI KHEN VÀ THỜ PHƯỢNG
Bài của Gerald Rowlands
Mục lục:
E2.1 – Chức Tế Lễ Mới
E2.2 – Những Yếu Tố Quan Trọng Về Sự Ngợi Khen
E2.3 – Sự Ngợi Khen: Phước Hạnh Và Sự Ngăn Trở
E2.4 – Đường Lối Kinh Thánh Về Sự Thờ Phượng Và Ngợi Khen Đức
Chúa Trời
E2.5 – Dâng Của Lễ Bằng Sự Ngợi Khen
E2.6 – Ý Nghĩa Của Sự Ngợi Khen Và Thờ Phượng
E2.7 – Âm Nhạc Trong Sự Ngợi Khen Và Thờ Phượng
E2.8 – Hướng Dẫn Một Buổi Nhóm Thờ Phượng
E2.9 – Ý Nghĩa Tiên Tri Về Sự Ngợi Khen

Chương 2:
NHỮNG YẾU TỐ QUAN TRỌNG VỀ SỰ NGỢI KHEN

A. NGỢI KHEN LÀ GÌ?
Nếu chúng ta có thể phân tích được sự ngợi khen, thì chúng ta sẽ khám phá cốt lõi của sự ngợi khen là gì? Bản chất, nội dung của sự ngợi khen là gì? Sự ngợi khen thật bao gồm những điều gì? Sự ngợi khen có liên quan đến những yếu tố quan trọng nào? Trước hết chúng ta hãy xem xét một số từ trong Cựu ước được dịch là “sự ngợi khen” để tìm hiểu những ý nghĩa về từ ngữ mà những từ đó muốn nói đến.

1. Những Từ Trong Cựu Ước Được Dịch Là “Ngợi Khen”
a. Hallal.

Đây là từ được dùng thường xuyên nhất trong Cựu Ước để chỉ sự ngợi khen. Từ này xuất hiện 88 lần. Ý nghĩa đầu tiên của từ này là “tạo nên một âm thanh rõ ràng” và một ý nghĩa khác nữa là “khoe mình, chúc tụng, tán dương, hãnh diện…”.

Vì vậy sự ngợi khen thật là nên có một âm thanh rõ ràng, dễ nghe. Không nên thắc mắc về điều gì được định sẵn nhưng phải nhận thức rõ ràng đó là điều gì. Đó là dấu hiệu về sự chúc tụng, sự khoe mình ở trong Chúa.

b. Hilluwi.
Hilluwi (bắt nguồn từ chữ Hallah) là “lễ cảm tạ hoàn tất mùa gặt”. Sự ngợi khen như vậy được biểu lộ trong sự hoan hỉ.
Quang cảnh sau mùa gặt ở bất kỳ nước nào có nền nông nghiệp cũng minh họa được ý nghĩa cốt lõi của từ này. Những tháng dài chờ đợi đã qua. Mùa gặt đã được thu hoạch xong. Công việc nặng nhọc đã hết, công cụ được xếp cất, thóc lúa đã cho vào kho. Đó là lúc tổ chức vụ mùa gặt hái thành công. Đó là lúc vui chơi, ca hát.
Hát múa là thủ tục trong ngày đó. Sự vui mừng là bày tỏ sự tạ ơn và ngợi khen.

c. Tehillah.
Tehillah là một từ khác xuất phát từ chữ hallal. Lần này lại nhấn mạnh đến sự hát xướng. Chúng ta hát lớn tiếng, hát để ca ngợi. Chúng ta hát một bài ca rõ ràng để ngợi khen Chúa. Chúng ta hát ca ngợi Ngài.

Bài hát và thánh ca phải là những bài hát ngợi khen rõ ràng và không có lỗi để ngợi khen Đức Chúa Trời. Chúng ta khoe mình về Ngài bằng cả lời nói và âm nhạc.

d. Shabach.
Từ này có nghĩa là “la lớn tiếng, lớn tiếng thắng trận, hãnh diện về sự chiến thắng”. Sự ngợi khen không phải lúc nào cũng ồn ào. Không phải lúc nào chúng ta cũng la hét lên. Nhưng có những trường hợp chỉ có tiếng hét đắc thắng mới thích hợp với sự ngợi khen Đức Chúa Trời. Thi 47:1 chép “… Hãy lấy tiếng thắng trận reo mừng cho Đức Giêhôva ”. Trong những trường hợp như vậy, đừng nén lòng, hãy để cho tiếng hát của bạn được vang lên.

e. Zamar.
Ý nghĩa là “khảy đàn dây”. Ở đây rõ ràng là nói đến sự ngợi khen Đức Chúa Trời bằng nhạc cụ và cũng có nghĩa là “hát ngợi khen có nhạc cụ đệm theo”. Thật tuyệt vời làm sao khi chơi đủ loại nhạc khí dâng lên cho Đức Chúa Trời, tạo nên bài ca ngợi khen vinh hiển dâng lên Ngài.

f. Yadah.
Ý nghĩa đầu tiên của từ này là “bày tỏ sự cảm tạ”. Nhưng từ này cũng hàm ý là “giơ tay lên”, bày tỏ sự cảm tạ bằng cách đưa tay đưa lên, hướng về Đức Chúa Trời.

g. Towdah.
Từ này có cùng ngữ căn như Yadah, và có ý nghĩa tương tự nhưng lại cụ thể hơn nghĩa là: “Đưa tay lên với sự tôn kính và cảm tạ”.

h. Barak.
“Quì xuống trong sự tôn kính”. Ở đây dáng điệu của toàn cơ thể nói lên giá trị thật của sự ngợi khen. Quì trước một người nào đó là bày tỏ sự khiêm nhường, xác nhận giá trị và địa vị cao cả của họ.

2. Những Thành Phần Của Sự Ngợi Khen
Chúng ta hãy suy nghĩ một chút về một số thành phần đáng chú ý trong những hình thức ngợi khen này.

a. Sự Biểu Lộ Của Thân Thể.
Những sự biểu lộ và thể hiện của thân thể bày tỏ sự nhận thức thuộc linh ở bên trong. Sự ngợi khen và thờ phượng là sự đáp ứng bên trong lòng đầu tiên đối với sự mặc khải của Đức Chúa Trời và sự vĩ đại của Ngài. Để điều đó trở thành sự ngợi khen thật sự thì điều đó phải được biểu lộ ra ngoài.

b. Âm Thanh Có Thể Nghe Được.
Từ có thể bị loại trừ trong trường hợp này là BARAK nghĩa là quì xuống trong sự tôn kính. Dáng điệu thờ phượng như vậy thường được biểu lộ trong sự im lặng. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể quì xuống VÀ hát lớn để ngợi khen Chúa.

c. Hoạt Động Của Thân Thể.
Sự ngợi khen đòi hỏi sự tham gia tích cực của thân thể. Không phải lúc nào cũng yên lặng và thụ động. Sự ngợi khen là điều gì đó mà chúng ta phải LÀM!

d. Biểu Lộ Tình Cảm.
Sự ngợi khen Đức Chúa Trời KHÔNG phải là vận dụng tình cảm. Đó là hoạt động của tâm linh. Tuy nhiên biểu lộ tình cảm vẫn cần thiết.
Có khá nhiều Cơ đốc nhân e ngại biểu lộ tình cảm. Họ luôn tìm cách đè nén và tin rằng sự biểu lộ đó chỉ là xác thịt. Sự bày tỏ theo Kinh Thánh về vấn đề ngợi khen đòi hỏi phải có sự biểu lộ tình cảm một cách tích cực nhưng phải được kiểm soát.

Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tình cảm và tình cảm đó để làm vinh hiển Ngài. Đavít nói rằng chúng ta hãy “Mọi điều gì ở trong ta hãy ngợi khen Đức Giêhôva ” (Thi 103:1). Điều này bao gồm cả phương diện tình cảm. Tình cảm con người phải có sự biểu lộ.
Nếu chúng ta không biểu lộ cách tích cực và lành mạnh thì sẽ tỏ ra thái độ tiêu cực và uể oải. Ngợi khen Đức Chúa Trời là cách tốt nhất để giải phóng tình cảm của chúng ta. Đó là cách mà Đức Chúa Trời đòi hỏi!

e. Sự Tôn Vinh.
Mọi sự biểu lộ ngợi khen thật đều phải có sự tôn kính. Sự Tôn kính là tôn trọng, quí mến một người nào đó một cách đúng đắn.
Đừng bao giờ để cho những hành vi ngợi khen rơi vào sự bất kính thái quá. Sự ngợi khen Đức Chúa Trời KHÔNG phải là phương tiện vui chơi cho chính mình.

Sự ngợi khen không phải để cho con người vui thích mặc dù chúng ta vui mừng bày tỏ điều đó. Sự ngợi khen phải là sự bày tỏ lòng tôn kính Đức Chúa Trời.

Chúng ta nên cẩn thận tránh đi vào sự thái quá và trình diễn theo xác thịt khi biểu lộ tình cảm trong sự ngợi khen cả về phương diện luật pháp và Kinh Thánh. Sự tôn kính thật luôn là yếu tố quan trọng của sự ngợi khen.

B. TẠI SAO CHÚNG TA PHẢI NGỢI KHEN CHÚA?

47:7 chép “… Hãy ngợi khen cách thông hiểu ”. Chúng ta phải biết tại sao chúng ta phải dâng sự ngợi khen cho Đức Chúa Trời. Đây là một số lý do trong Kinh Thánh mà chúng ta nên biết.

1. Bởi Vì Ngài Là Đấng Đáng Được Ngợi Khen
149:1 “Hãy hát xướng cho Đức Giêhôva…”. Nói cách khác, hãy ngợi khen Ngài vì Ngài là Đức Giêhôva. Ngài là Đấng cầm quyền tuyệt đối, quyền năng tối cao, Vua muôn vua, Chúa các chúa.
Ngài có trước mọi sự và là Đấng làm nên mọi sự. Do đó Ngài là Đấng vĩ đại hơn mọi sự.
“Đức Giêhôva là lớn, rất đáng được ngợi khen. ..” (48:1; 69:4).

2. Sự ngợi Khen Tôn Vinh Đức Chúa Trời
“Kẻ nào dâng sự cảm tạ làm của lễ, tôn vinh ta. ..” (50:23). Chắc chắn đây là ước muốn lớn nhất của tất cả dân sự của Đức Chúa Trời là: Tôn vinh Ngài.

3. Vì Đức Chúa Trời Đòi Hỏi Chúng Ta Làm Như Vậy
“Ngợi khen Đức Giêhôva ” không phải là lời đề nghị hay yêu cầu. Đây là một mạng lệnh.

4. Vì Tất Cả Những Ân Huệ Của Ngài
“Hãy ngợi khen Đức Giêhôva chớ quên các ân huệ của Ngài ” (103:2).

5. Vì Sự Nhơn Từ Của Ngài
“Hãy ngợi khen Ngài vì sự nhơn từ của Ngài ” (107:21).

6. Vì Các Công Việc Quyền Năng Của Ngài
“Hãy ngợi khen Ngài vì các việc quyền năng Ngài ” (105:2).

7. Đó Là Điều Tốt Lành
“Lấy làm tốt mà ngợi khen Đức Giêhôva ” (92:1, 2; 147:1).

8. Ngài Đáng Được Ngợi Khen
“Đức Giêhôva đáng được ngợi khen ” (18:3; IISa 22:4).

9. Sự Ngợi Khen Tôn Cao Ngài (Thi-thiên 69:30)

10. Sự Ngợi Khen Là Đúng Đắn

“Sự ngợi khen là đúng đắn, đáng cho người ngay thẳng ” (Thi 35:1). Từ cổ của tiếng Anh về chữ “đúng đắn” có nghĩa là đúng đắn, thích hợp, dành riêng cho, trở nên thích hợp với. Thật không may một số Cơ đốc nhân cảm thấy rằng sự ngợi khen Đức Chúa Trời là khó coi và không được đúng đắn. Họ sợ rằng như thế là không đúng đắn. Vì một lý do nào đó, họ cảm thấy rằng thái độ được gọi là nghiêm trang kỉnh kiền mới là thái độ đúng đắn của Cơ đốc nhân.

Tuy nhiên Kinh Thánh bài tỏ một quan điểm trái ngược. Đức Chúa Trời phán rằng họ nên mặc lấy sự ngợi khen. Sự vui mừng trong Đức Chúa Trời và sự ngợi khen Ngài là thái độ phù hợp, đúng đắn cho con cái của Đức Chúa Trời. Tôi thích ý kiến tán thành của Đức Chúa Trời hơn quan điểm của con người.

11. Đức Chúa Trời Ngự Giữa Sự Ngợi Khen
“Đức Chúa Trời ngự giữa sự ngợi khen của dân Ngài ” (22:3). Đấng Thánh của Ysơraên ngự giữa sự ngợi khen của chúng ta! Nếu lòng chúng ta đầy dẫy sự ngợi khen thì cũng sẽ đầy dẫy Đức Chúa Trời vì Ngài ngự giữa sự ngợi khen.

Điều này cũng rất đúng trong gia đình hoặc trong Hội Thánh của chúng ta. Nhà hoặc Hội Thánh của chúng ta đầy dẫy sự ngợi khen thì cũng sẽ được đầy dẫy sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Sự hiện diện của Đức Chúa Trời có thể ở xung quanh chúng ta khi chúng ta vun đắp thái độ ngợi khen của chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ cảm nhận được sự hiện diện của Ngài hơn là bị ràng buộc trong những nan đề, những khó khăn và nghịch cảnh của chúng ta.

12. Sự Ngợi Khen Tạo Nên Năng Lực
Trong 84:4-7, Đavít nói “Phước cho người nào ở trong nhà Chúa. Họ sẽ ngợi khen Chúa không ngớt. Phước cho người nào được sức lực trong Chúa. .. Họ đi tới sức lực lần lần thêm. ..”.
Người nào ngợi khen Chúa thì sẽ có Chúa làm sức lực cho mình. Người ấy cũng biết được sự vui mừng của Chúa qua sự ngợi khen, và sự vui mừng của Chúa là sức lực của người ấy (Ne 8:10).

13. Nhận Được Những Điều Ao Ước Đúng Đắn
“Cũng hãy khoái lạc nơi Đức Giêhôva, thì Ngài sẽ ban cho ngươi điều lòng mình ao ước ” (Thi 37:4).
Có nhiều người nói rằng “Giá mà Đức Chúa Trời ban cho tôi những điều lòng tôi ước ao thì tôi sẽ ngợi khen Ngài về điều ấy là dường nào!”. Trật tự thiên thượng của Chúa thì ngược lại.

Chúng ta ngợi khen Ngài và khoái lạc trong Ngài THÌ Ngài sẽ ban cho chúng ta mọi điều lòng chúng ta ao ước. Đức Chúa Trời đặt những ước ao thánh trong tấm lòng ngợi khen để chúng ta có những ước ao đúng đắn. Những ưu tiên hàng đầu của “người ngợi khen Chúa” phải đúng thứ tự thì Đức Chúa Trời sẽ vui lòng ban cho những ao ước đó.

14. Sự Ngợi Khen Đi Trước Sự Chiến Thắng
Vua Giôsaphát đã lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời đánh trận với kẻ thù. Đức Chúa Trời đã hướng dẫn ông là ông nên chỉ định những người ca hát cho Ngài (IISửký 20).

Họ đi trước hàng quân, ngợi khen Đức Chúa Trời và nói rằng:
“Hãy ngợi khen Đức Giêhôva vì sự thương xót của Ngài hằng có đời đời. Đương lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giêhôva đặt phục binh xông vào dân Ammôn, dân Môáp và những kẻ ở núi Sêirơ đã đến hãm đánh Giuđa, và các dân ấy đều bị đánh bại ” (IISu 20:21, 22).
Hãy thử tưởng tượng xem, một ca đoàn đang dẫn đầu một đạo quân! Đi đánh trận kiểu này quả là một điều hết sức lạ lùng đối với một tâm trí tự nhiên.
Nhưng “… những khí giới mà chúng tôi dùng để chiến tranh là không phải thuộc về xác thịt đâu. .. Chúng có sức mạnh để đạp đổ các đồn lũy ” (IICo 10:4).

Khi chúng ta đối diện với kẻ thù, chúng ta cần nhận thức một cách tươi mới về quyền năng của sự ngợi khen và đi vào chiến trận bằng sự ngợi khen Đức Chúa Trời trên môi miệng. Sau đó chúng ta sẽ thấy sự giải cứu của Đức Chúa Trời.
Những người thật sự học tập ngợi khen Chúa là những người sẽ biết sự hiện diện và quyền năng của Ngài.

C. AI LÀ NGƯỜI PHẢI NGỢI KHEN CHÚA?

1. Tất cả mọi người ở khắp mọi nơi (145:21; 148:11-13;).
2. Mọi loài xác thịt (145:21).
3. Mọi vật có hơi thở (150:6).
4. Dân sự của Đức Chúa Trời (79:13).
5. Những người công bình (140:13).
6. Các thánh đồ (145:10).
7. Những người được chuộc (107:1, 2).
8. Những người kính sợ Chúa (22:23).
9. Những người biết và tin lẽ thật (ITi1Tm 4:3).
10. Những tôi tớ của Đức Chúa Trời (Thi Tv 113:1; 134:1; 135:1).
11. Tất cả các thiên sứ của Ngài (148:2).
12. Cả cõi thiên nhiên (148:3-10).

D. CHÚNG TA PHẢI NGỢI KHEN CHÚA KHI NÀO?

1. Từ Sáng Đến Tối
“Từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, phải ngợi khen danh Đức Giêhôva ” (113:3).

2. Suốt Ngày
“Hàng ngày miệng tôi đầy sự ngợi khen và tôn vinh Chúa ” (71:8).

3. Hễ Khi Nào Chúng ta Còn Sống
“Hễ tôi còn sống chừng nào, tôi sẽ ngợi khen Chúa. ..” (146:2).

4. Bất Cứ Lúc Nào
“… sự ngợi khen Ngài hằng ở nơi miệng tôi ” (34:1).

5. Trong Những Lúc Tuyệt Vọng
“Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã và bồn chồn trong mình ta? Hãy trông cậy nơi Đức Chúa Trời, ta sẽ còn khen ngợi Ngài nữa.
Ngài là sự cứu rỗi của mặt ta và là Đức Chúa Trời ta ” (42:11).

6. Trong Mọi Sự
“Hãy thường thường nhơn danh Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, vì mọi sự tạ ơn Đức Chúa Trời là Cha chúng ta ” (Eph 5:20).

E. CHÚNG TA SẼ NGỢI KHEN CHÚA Ở ĐÂU?

1. Trong Hội Lớn
“… Tôi sẽ ngợi khen Chúa GIỮA HỘI CHÚNG ”.

2. Giữa Các Dân
“Tôi sẽ ngợi khen Ngài GIỮA CÁC DÂN ” (Thi 57:9).

3. Trong Hành Lang Ngài
“Hãy ngợi khen mà VÀO HÀNH LANG NGÀI ” (100:4).

4. Tại Nơi Hiệp Tập Các Trưởng Lão.
“Người ta cũng hãy tôn cao Ngài. .. và ngợi khen Ngài tại nơi HIỆP TẬP CÁC TRƯỞNG LÃO ” (107:32).

5. Giữa Các Nước
“Hỡi Đức Giêhôva, tôi sẽ cảm tạ Ngài GIỮA CÁC DÂN. Hát ngợi khen Ngài TRONG CÁC NƯỚC ” (108:3).

6. Giữa Đoàn Dân Đông
“… Tôi sẽ ngợi khen Ngài GIỮA ĐOÀN DÂN ĐÔNG ” (109:30).

7. “… TRONG HỘI CÁC THÁNH ” (149:1).

8. “… TRONG NƠI THÁNH NGÀI ” (150:1).